Sáo là một nhạc cụ có từ rất lâu, được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng với nhiều kiểu dáng, chất liệu, cấu tạo khác nhau. Trong đó sáo bầu là một loại sáo đặc biệt của dân tộc thiểu số ở nước Trung Quốc vời nguồn gốc từ trước công nguyên.
850,000 ₫
Đàn nguyệt là loại đàn này có bầu vang hình tròn như mặt trăng nên mới có tên là “đàn nguyệt”. Đàn thường được dùng để độc tấu hoặc hòa tấu với nhiều loại nhạc cụ dân tộc khác. Âm sắc đàn nguyệt đa dạng từ tươi sáng, rộn ràng đến da diết, tình cảm. Đàn nguyệt được sử dụng trong hát chầu văn, đờn ca tài tử, chèo, ca Huế…
1,000,000 ₫
Sáo mèo là một loại nhạc cụ của người dân tộc H’Mông ở miền bắc Việt Nam và Trung Quốc. Điểm nhấn đặc trưng của sáo mèo là một lỗ thổi có gắn thêm lưỡi gà còn gọi là lam bằng đồng có khả năng dao động tạo ra âm thanh và ở gần lỗ thổi có thêm một lỗ bấm. Cách chơi sáo mèo cũng khác với các loại sáo thông thường.
1,000,000 ₫
Sáo mèo là một loại nhạc cụ của người dân tộc H’Mông ở miền bắc Việt Nam và Trung Quốc. Điểm nhấn đặc trưng của sáo mèo là một lỗ thổi có gắn thêm lưỡi gà còn gọi là lam bằng đồng có khả năng dao động tạo ra âm thanh và ở gần lỗ thổi có thêm một lỗ bấm. Cách chơi sáo mèo cũng khác với các loại sáo thông thường.
1,000,000 ₫
Đàn tứ là một loại nhạc cụ cổ truyền của Việt Nam. Đàn tứ có bốn dây nên người ta gọi là đàn tứ (tứ là bốn). Tuy nhiên đàn này còn nhiều tên gọi khác như đàn đoản (đoản là ngắn) vì cần đàn ngắn hơn đàn nguyệt, đàn nhật (nhật là mặt trời) vì thùng đàn hình tròn tạo thành một cặp với đàn nguyệt (nguyệt là mặt trăng). Đàn tứ có 2 loại là đàn tứ thùng (loại mới) và đàn tứ tròn (đàn đoản – loại cổ truyền).
1,400,000 ₫
Đàn nhị là nhạc cụ thuộc bộ dây có cung vĩ, do đàn có 2 dây nên gọi là đàn nhị (二). Đàn xuất hiện ở Việt Nam khoảng thế kỷ 10. Ngoàingười Kinh, nhiều người dân tộc thiểu số Việt Nam cũng sử dụng rộng rãi nhạc cụ này (Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Giấy, H’Mông v.v.)
1,500,000 ₫
Đàn tỳ bà hay tỳ bà là tên gọi một nhạc cụ dây gẩy của người phương Đông, qua thời gian dài sử dụng nó đã được bản địa hóa khác nhau tuỳ theo từng vùng hoặc từng quốc gia. Tỳ bà đã xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc với tên gọi PiPa (琵琶), rồi ở Nhật Bản với tên gọi Biwa. Tỳ bà lần đầu tiên được nêu danh trong lịch sử Việt Nam, khi Lê Tắc ghi trong An Nam chí lược tên dàn tiểu nhạc dùng ngoài cung đình nhà Trần. Đàn tỳ bà của Việt Nam là dạng rất cổ xưa của đàn PiPa, vốn từ Ba Tư dưới dạng đàn Barbat theo con đường tơ lụa vào Trung Quốc.
1,500,000 ₫
Đàn tranh (chữ Nôm: 檀箏, chữ Hán: 古箏: cổ tranh) – còn được gọi là đàn thập lục, là nhạc cụ truyền thống của người phương Đông, có xuất xứ từ Trung Quốc. Đàn thuộc họ dây, chi gảy. Vì có 16 dây nên đàn còn có tên gọi là đàn Thập lục.
Ngoài khả năng diễn tấu giai điệu, ngón chơi truyền thống của đàn tranh là những quãng tám rải hoặc chập và ngón đặc trưng nhất là vuốt trên các dây là ngón á. Đàn tranh là nhạc khí dùng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho hát, ngâm thơ và được chơi trong nhiều thể loại âm nhạc như các dàn nhạc tài tử, cải lương, chèo, nhã nhạc, dân tộc tổng hợp.
1,500,000 ₫
Sáo mèo là một loại nhạc cụ của người dân tộc H’Mông ở miền bắc Việt Nam và Trung Quốc. Điểm nhấn đặc trưng của sáo mèo là một lỗ thổi có gắn thêm lưỡi gà còn gọi là lam bằng đồng có khả năng dao động tạo ra âm thanh và ở gần lỗ thổi có thêm một lỗ bấm. Cách chơi sáo mèo cũng khác với các loại sáo thông thường.
1,800,000 ₫
Trống đế hay trống chầu là nhạc cụ gõ, họ màng rung xuất hiện ở Việt Nam từ khá lâu đời. Trong nghệ thuật chèo người ta gọi nó là trống đế, còn trong ca trù nó là trống chầu. Đúng như tên gọi, Trống đế làm nhiệm vụ đế có nghĩa là lót, là chỗ dựa, làm điểm xuyết cho diễn viên khi biểu diễn và ca hát.
2,000,000 ₫
Đàn bầu, tên chữ là độc huyền cầm (獨絃琴), là loại đàn một dây của người Việt, thanh âm phát ra nhờ sử dụng que hay miếng gảy vào dây. Dựa theo cấu tạo của hộp cộng hưởng, đàn bầu chia hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ.
2,000,000 ₫